GĐPT Cự Lại - Phú Vang - TT Huế | Tin tức | Phật Pháp | Bậc Hướng Thiện 
 
Bậc Hướng Thiện
(Cập nhật: 31.12.2009 12:16)

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca
(Từ sơ sanh đến xuất gia)

EM NGHE

Vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, dân tộc A-ly-an (Aryen) thâu phục nước Ấn Độ và chia dân chúng ra thành bốn giai cấp như sau :

1- Bà-la-môn: Gồm các đạo sĩ học hành uyên thâm, giới hạnh đoan nghiêm. Văn hóa của dân tộc đều nằm trong sự điều khiển của các bậc này.
2- Sát-đế-lỵ: Dòng dõi vua chúa.
3- Phệ-xá: Hạng buôn bán.
4- Thủ-đà-la: Dân tôi tớ lao động.

Ngoài ra còn có chủng tộc Ba-ly-a, là dân tộc mọi rợ.

Chỉ có ba giai cấp trên được quyền học đạo. Hai giai cấp sau cùng không có quyền đọc kinh sách, ngược lại chỉ làm tôi tớ cho ba giai cấp trên.

I. Sự ra đời của thái tử:

Vào năm 623 Trước Tây Lịch, Vua Tịnh Phạn được 50 tuổi, và Hoàng Hậu Ma Gia được 45 tuổi, một hôm trong giấc ngủ an lành, hoàng hậu mộng thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào hông bên phải của bà và sau đó thì hoàng hậu thọ thai. Thái tử sanh vào ngày trăng tròn tháng hai Ấn độ, tức nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch, dưới cây Vô ưu, vườn Lâm Tỳ Ni, nước Ca Tỳ La Vệ. Ngài được đặt tên Tất Đạt Đa, họ Thích Ca, vì Thích Ca là chi nhánh của dòng dõi Kiều Tất La nên ngài được gọi là Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt Đa.

II. Tướng mạo Thái tử:

Thái tử có 32 tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp. Tướng số A -Tư-Đà nhìn thái tử và nói rằng : "Nếu thái tử làm vua thì sẽ làm vị chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia thì sẽ thành Phật." Ông A-Tư-Đà vừa vui vừa buồn. Vui là thái tử sẽ thành Phật, và buồn vì khi thái tử thành Phật thì ông không còn sống nữa.

III. Cuộc sống của Thái tử:

Thái tử chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu Ma Gia qua đời. Thái tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng. Thái tử nổi tiếng thông minh, văn võ song toàn, lại luôn luôn khiêm tốn, lễ độ nên được mọi người yêu chuộng. Đến năm 17 tuổi, sau khi chiến thắng được tất cả các cuộc thi đua, Thái tử cưới công chúa Da-Du-Đà-La làm vợ và sanh được đứa con trai tên La-Hầu-La.

IV. Thái tử tiếp xúc với đời:

Thái tử xin cha đi du ngoạn để biết cuộc sống ở ngoài hoàng cung. Lần thứ nhất ở cửa thành phía Đông ngài gặp một cụ già da nhăn, lưng còm, tai điếc. Lần thứ hai ở cửa thành phía Tây gặp một người bịnh rên la thảm thiết. Lần thứ ba ở cửa thành phía Nam ngài chứng kiến một đám tang, thân nhân khóc la sầu thảm. Bấy giờ thái tử mới thực sự biết rõ thực trạng đau khổ của kiếp người. Lần thứ tư ở cửa thành phía Bắc gặp một vị sa môn. Nhìn hình ảnh thanh thoát của vị sa môn làm thái tử nảy sanh ý chí tìm đạo. Ngài hiểu rằng chỉ có phương pháp xuất gia, tìm đạo giải thoát, mới mong cứu được hết thảy chúng sanh khỏi khổ đau.

V. Thái tử xuất gia:

Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người đang ngủ say, thái tử nhìn vợ con lần cuối rồi cùng Xa-Nặc phi ngựa Kiền-trắc theo hướng Đông Nam. Đến dòng sông A-Nô-Ma, ngài cởi hoàng bào, cắt tóc, và trao gươm báu cho Xa-Nặc đem về cho vua cha để bày tỏ ý chí cương quyết xuất gia của Thái tử. Ngài xuất gia vào lúc trăng tròn tháng 2 Ấn độ lúc ngài được 19 tuổi.

SUY NGHĨ

Ngài luôn luôn nghĩ đến sự khổ đau của chúng sanh và tìm cách cứu giúp.

Thái tử xem nhẹ danh lợi, tài sắc, giã từ hạnh phúc gia đình để đi tìm hạnh phúc chân thật.

Ý chí dũng mạnh, cương quyết của Ngài đã giúp ngài vượt qua mọi gian khổ trên bước đường xuất gia.

Sự có mặt của Ngài không phải là huyền ảo. Chính lịch sử nhân loại đã chứng minh ngài là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật.

TU TẬP

Không đua đòi theo thế gian.
Không ăn chơi quá độ.
Không ngủ quá mức.
Luôn nghĩ đến khổ đau của người khác.
Thương mọi người như thương chính bản thân mình.
Không hơn thua ganh tị.
Giúp đỡ mọi người.
Không hèn nhát trong lẽ phải.
Đừng sợ hãi khi đối diện với sự thật.
Tinh tấn trong việc học hành cũng như công việc làm.

  • Ý nghĩa bài Sám Hối
  • Đệ tử kính lạy
    Đức Phật Thích-Ca
    Phật A-Di-Đà
    Mười phương chư Phật
    Vô lượng Phật Pháp
    Cùng Thánh Hiền Tăng.

    Đệ tử lâu đời lâu kiếp
    Nghiệp chướng nặng nề
    Tham giận kiêu căng
    Si mê lầm lạc.
    Ngày nay nhờ Phật
    Biết sự lỗi lầm
    Thành tâm sám hối.
    Thề tránh điều dữ
    Nguyện làm việc lành.
    Ngữa trông ơn Phật
    Từ bi gia hộ
    Thân không tật bệnh
    Tâm không phiền não
    Hằng ngày an vui tu tập
    Phép Phật nhiệm mầu
    Để mau ra khỏi luân hồi,
    Minh tâm kiến tánh
    Trí tuệ sáng suốt
    Thần thông tự tại

    Đặng cứu độ các bậc Tôn Trưởng
    Cha mẹ anh em
    Thân bằng quyến thuộc
    Cùng tất cả chúng sanh
    Đồng thành Phật Đạo.

    I. Định Nghĩa:

    Sám là thú nhận lỗi lầm, Hối là hứa từ nay không tái phạm.

    Sám Hối là thú nhận lỗi lầm, và hứa không tái phạm.

    Cũng có thể hiểu là: Vô cùng hối hận và ăn năn những điều sai trái đã gây ra. Xin tự mình nghiêm khắc kiểm điểm, tự phê phán, tự hứa không còn tái phạm.

    II. Giải thích từ ngữ:

    Đệ tử: Là học trò, là con. Đệ tử là danh từ mà Phật Tử xưng hô với Chư Phật.
    Kính lạy: Kính là tôn trọng, cung kính. Lạy là một hành động mà trán, hai tay và hai chân sát mặt đất. Kính lạy là cử chỉ tôn kính Tam Bảo.
    Đức Phật Thích Ca: Đức Phật hiệu Thích Ca, vị đã sáng lập ra Đạo Phật, Giáo Chủ cõi Ta-Bà.
    Phật A Di Đà: Vị Phật làm Giáo Chủ cõi Tịnh Độ.
    Thập phương chư Phật: Mười phương các Đức Phật. (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên, dưới).
    Thánh Hiền Tăng: Các vị Bồ Tát, A La Hán, các vị Tăng Già tu hành chân chính.
    Nghiệp chướng: Ý nghĩ, lời nói, hành động xấu ác.
    Minh tâm kiến tánh: Sáng rõ chân tâm, thấy rõ thể tánh. Nghĩa là đã Giác ngộ.
    Thần thông: Phép bí mật, chỉ các bậc Giác ngộ mới hiểu và làm được.
    Tự tại: Không bị ràng buộc, chi phối bởi các hoàn cảnh chướng ngại chung quanh.

    III. Phân đoạn:

    Bài Sám Hối có thể chia làm ba đoạn:

    Đoạn 1: Từ "Đệ tử kính lạy ..." đến "Thánh Hiền Tăng": Đệ tử xin kính lạy trước Tam Bảo.

    Đoạn 2: Từ "Đệ tử lâu đời ..." đến "Thần thông tự tại": Xin thú nhận lỗi lầm đã tạo nhiều kiếp trước, nguyện làm việc lành và cầu xin Chư Phật gia hộ; nguyện tinh tấn tu hành, mau thành đạo quả.

    Đoạn 3: Từ "Đặng cứu độ..." đến "Đồng thành Phật Đạo": Nguyện hồi hướng công đức cho các bậc tiền nhân, cha mẹ, anh, chị, em, bạn hữu và tất cả mọi người, mọi loài đều thành Phật.

    IV. Đại ý của Bài Sám Hối:

    Bài Sám Hối có các ý chính như sau:

    - Xin kính lạy Tam Bảo và thú nhận lỗi lầm đã làm từ nhiều kiếp trước đến nay.
    - Xin theo lời Phật dạy để tu tập, bỏ ác làm lành, cầu Phật gia hộ.
    - Xin hồi hướng cho các bậc tiền nhân, cha mẹ, anh, chị, em, bạn bè và tất cả chúng sanh đều thành Phật Đạo.

    Sám Hối là bài kinh có ý nghĩa dễ hiểu. Gia Đình Phật tử lấy bài kinh nầy làm bài kinh tụng chính trong nghi thức tụng niệm của mình. Đọc tụng bài kinh nầy thì phải cố gắng thực hiện ý kinh, làm lành lánh dữ. Như vậy sự đọc tụng mới có ý nghĩa.

    Câu hỏi:

    Bài Sám Hối được đọc tụng vào những lúc nào?
    Sám Hối là gì?
    Chúng ta sám hối với ai?
    Tại sao chúng ta xưng với Đức Phật là đệ tử?
    Đại ý bài Sám Hối nói gì?
    Sám hối phải có thái độ thế nào?
    Em sẽ làm gì để chứng tỏ em thực hành khi đã đọc tụng bài Sám Hối?

  • Ba Ngôi Báu
  • Định Nghĩa: Phật, Pháp, Tăng là 3 ngôi quí báu nhất không gì sánh bằng.

    I. Phật Bảo:

    Tiếng Phạn gọi là Phật-Đà, gồm có 3 nghĩa:
    - Tự giác: Là tự mình giác ngộ.
    - Giác tha: Là giác ngộ cho mọi loài cùng giác ngộ như mình.
    - Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh ấy hoàn toàn viên mãn.

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người giác ngộ hoàn toàn đem giáo pháp dạy chúng ta. Chúng ta gọi Ngài là Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. Do công hạnh tu tập Ngài có 32 tướng tốt.

    Trên đầu có nhục kế: Là biểu hiện trí huệ hoàn toàn.
    Trên đầu có hào quang: Là biểu hiện trí huệ sáng suốt.
    Hai tai dài: là thọ mạng lâu dài
    Mặt tròn như trăng rằm, khác với gương mặt chúng sanh.
    Hai mắt trong xanh, giữa hai chân mày có sợi dài trắng, giữa ngực có chữ Vạn, chân tay tròn dày, da mịn bao bọc, dưới chân có 1.000 xoáy tròn v.v...

    Đức Phật có đầy đủ năm hạnh: Tinh Tấn, Hỷ Xả, Thanh Tịnh, Trí Tuệ và Từ Bi :
    - Tinh Tấn: Sự cương quyết tìm đạo giáo hóa chúng sanh mặc dù trải qua nhiều gian lao cực khổ. (Tu khổ hạnh 6 năm, ngồi thiền định 49 ngày dưới cây Bồ-Đề, giáo hóa hơn 49 năm).
    - Hỷ Xả: Hy sinh tìm đạo cứu chúng sanh mà không một niệm luyến tiếc.
    - Thanh Tịnh: Sự chân thành không nói lời độc ác, và không tham, sân, si.
    - Trí Huệ: Sự hiểu biết hoàn toàn.
    - Từ Bi: Đức Phật có lòng từ-bi vô lượng, thương xót cứu độ cho tất cả chúng sanh, từ loài người cho đến loài vật.

    II. Pháp Bảo:

    Pháp là lời dạy của đức Phật hoặc các vị Bồ Tát vâng theo lời Phật mà nói là những bảo vật quí báu nhất trên đời, đúng sự thật, đúng chân lý. Nhờ Pháp bảo, chúng sanh mới chứng được chân lý, trừ khổ, được vui và được giải thoát.

    Pháp bảo gồm có 3 món: Kinh, Luật và Luận.
    - Kinh: Là lời dạy của đức Phật, của các vị Bồ Tát vâng theo lời Phật dạy mà nói. Như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh 49 chương v.v...
    - Luật: Là những giới luật do đức Phật đặt ra cho các hàng xuất gia và tại gia tu hành.
    - Luận: Là lời luận bàn về Kinh điển của các vị Tổ sư để nói rộng các ý chính trong Kinh luật cho dễ hiểu.

    III. Tăng Bảo:

    Tăng Bảo là một đoàn thể xuất gia tu hành theo đạo Phật, gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo sáu phép hòa kính, đúng như lời Phật dạy; giữ gìn giới luật, làm gương mẫu cho mọi người, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.

    Các hàng Tăng chúng:
    - Sa-Di: hàng Nam giới xuất gia giữ 10 giới.
    - Sa-Di-Ni: hàng Nữ giới xuất gia giữ 10 giới.
    -Tỳ Kheo: hàng Nam giới xuất gia giữ 250 giới.
    - Tỳ Kheo-Ni: hàng Nữ giới xuất gia giữ 350 giới.

    Kết Luận: Phật, Pháp, Tăng là ba món quý báu nhất trên đời đối với người Phật tử, là gương mẫu chơn chánh cho Phật tử noi theo, là phước đức cho tất cả chúng sanh gieo hạt giống tốt lành.

  • Ba pháp Quy-Y
  • Định Nghĩa:

    Quy: là trở về.
    Y: là nương tựa.
    Quy-y Tam Bảo: Là trở về và nương tựa Phật, Pháp và Tăng.

    I. Quy-y Phật:

    Là trở về với Đức Phật không theo thượng đế tà sư, ma quỉ thiên thần, chỉ nương tựa theo Đức Phật mà sống, từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm.

    II. Quy-y Pháp:

    Là trở về với Pháp Phật, không theo những ngoại đạo tà giáo, nương tựa theo những lời dạy của Đức Phật.

    III. Quy-y Tăng:

    Là trở về với Tăng bảo, một đoàn thể Tăng già xuất gia tu-hành, không theo các bạn bè độc-ác có hại từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm.

    IV. Lễ Quy-y:

    "Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết, để có thể thương yêu và chung sống với mọi người và mọi loài."

    Những lời nầy được phát nguyện dưới sự chứng minh của một vị sư truyền giới. Vị sư nầy sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người phát nguyện. Sau đó người phát nguyện được chính thức gọi là Phật-tử.

    Kết Luận:

    Quy-y Phật-Pháp-Tăng là một việc làm rất quan trọng, là cải tạo hẳn đời sống của mình, là bước trên con đường mới mẻ luôn luôn được Phật-Pháp-Tăng soi sáng chỉ đường và che chở.

  • Ý Nghĩa ăn Chay
  • I. Ý Nghĩa Ăn Chay:

    Ăn chay là tránh sự sát sanh, ăn các món không có mạng sống, như rau, đậu, trái cây, sữa v.v...

    II. Vì sao Đức Phật dạy các em ăn chay:

    Đức Phật là một vị có lòng thương mọi loài. Vậy em ăn chay để tăng trưởng lòng từ-bi khỏi giết hại súc vật, bỏ dần tánh độc ác.

    III. Lợi ích của sự ăn chay:

    1. Thân thể được khỏe mạnh, tránh được bệnh tật và làm việc được dai sức: Trong hoa quả, rau, sữa có nhiều chất bổ rất cần cho sức khỏe của thân thể. Khác với các món thịt có rất nhiều chất độc, nhất là thịt của các loài chim hay thịt để lâu ngày. Các món ăn chay sạch sẽ nhẹ nhàng, dễ tiêu hóa nên trong người được khỏe.

    2. Trí não em được sáng suốt, tánh tình được thuần hậu: Khi các em ăn nhiều thịt, trí não nặng nề mệt nhọc, khó nhớ, vì các món thịt cá khó tiêu và kích thích tâm trí, tánh tình gắt gỏng khó chịu, nhiều lòng tham, dễ nhiễm tánh ác. Trái lại ăn chay trí não được nhẹ nhàng, điềm tĩnh, sáng suốt, tánh tình thuần hậu, vui vẻ, biết thương yêu người và vật.

    3. Em đi dần trên đường đạo, em được mọi người thương kính: Em ăn chay là em vâng lời Phật dạy, là tưởng nhớ đến hạnh từ-bi cao cả của Đức Phật và em sẽ gần Đức Phật. Đức Phật tưởng nhớ tới em, an ủi và hộ trì cho em.

    4. Em ăn chay tức là em tập sống giản-dị, thể hiện đúng với hạnh thanh bạch của một Phật-tử.

    IV. Cách thức ăn chay:

    Có nhiều cách ăn chay:
    - Ăn chay trường: Tức là ăn chay trọn đời, không bao giờ ăn mặn.
    - Ăn chay kỳ: Tức là trong một năm nguyện ăn vài ba tháng hay trong một tháng nguyện ăn vài ngày.
    - Ăn chay thông thường: (nhị trai) Ăn chay hai ngày: Mồng một và rằm mỗi tháng.

    Khi đã phát nguyện ăn chay em phải nhớ những điều sau đây:
    - Đã phát nguyện ăn chay thì trọn đời giữ theo không vì trường hợp gì mà bỏ qua, trừ khi đau bệnh có thể khỏi giữ.
    - Dùng các món ăn chay đạm bạc, đừng có quá sang trọng.
    - Những ngày Vía và những ngày đi trại nên ăn chay.

    VI. Kết luận:

    Ăn chay là một phương pháp Phật dạy cho các em thực hành. Các em là Phật-tử, làm theo lời Phật dạy, tức là các em tiến tới gần Đức Phật, theo đúng mục đích của Đoàn.

    Châm Ngôn của ngành Thanh, Thiếu và Huynh Trưởng

  • Bi - Trí - Dũng
  • Từ Bi: Nghĩa là đem vui cứu khổ. Người Phật tử sống theo châm ngôn Bi không thể thản nhiên trước nổi khổ của kẻ khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt tầm thường mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui cho người và vật thì người Phật tử quyết không chối từ.

    Trí Tuệ: Nghĩa là hiểu biết rõ ràng cùng khắp, nhận rõ được chân lý và sự thật. Người Phật tử không cam tâm chịu dốt và u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý. Ngoài ra phải giúp đỡ khai sáng cho mọi người cùng học hỏi hiểu biết như mình.

    Dũng Mãnh: Nghĩa là can đảm tinh tấn, không yếu đuối sợ sệt, ươn hèn, thối chí. Là đoàn sinh Gia Đình Phật Tử em phải vượt qua mọi chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Phải luôn luôn cố gắng kiên trì để thắng mọi thử thách gian lao từ bên trong đến bên ngoài, mỉm cười trước nguy hiểm, tự tại trước thất bại để vững chí tiến bước trên đường tu học và hành đạo.

    Ba đức tính Bi - Trí - Dũng phải song song phối hợp, hỗ trợ nương tựa nhau, không thể thiếu một. Nếu có Bi (tình thương) mà thiếu Trí (lý trí) xét đoán thì Bi ấy sẽ bị sai lầm, mù quáng. Nếu có Trí mà không có Bi thì Trí ấy nguy hiểm. Khi có Bi và Trí mà thiếu Dũng thì Bi và Trí cũng vô dụng, vì không vượt thắng khó khăn, trở ngại để thực hiện Bi, Trí đạt tới thành công. Có Dũng mà thiếu Bi và Trí thì Dũng ấy dễ sai lạc bởi hành động thiếu suy nghĩ và có khi trở thành độc ác, rơi vào con đường trụy lạc.

    Tóm lại, sự cứu khổ, đem vui, an lành cho mọi loài cần có sự hiểu biết sáng suốt, nhận thức đúng đắn và can đảm trước mọi nguy hiểm, bền chí trước mọi khó khăn trở ngại để tiến bước không ngừng trên con đường ban vui cứu khổ.

    Là Đoàn viên Gia Đình Phật Tử chúng ta hãy sống đúng châm ngôn Bi - Trí - Dũng trong sinh hoạt hàng ngày.

    Câu Hỏi:

    1. Châm Ngôn của Gia Đình Phật Tử là gì ?
    2. Thế nào gọi là Bi, Trí và Dũng?
    3. Thực hành châm ngôn Bi em phải làm gì?
    4. Từ Bi và nhu nhược khác nhau thế nào?
    5. Thế nào mới gọi là Trí chơn chánh?
    6. Thế nào là Dũng chơn chánh?
    7. Châm ngôn Bi, Trí, Dũng phải liên hệ thế nào với nhau?
    8. Em phải làm gì để thực hành Bi, Trí, Dũng?

  • Năm Điều Luật
  • I. Mở Đầu:

    Trong bản Nội Quy của Gia Đình Phật Tử Việt Nam có ghi 5 điều luật của Ngành Thiếu trở lên là:

    1. Phật Tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
    2. Phật Tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
    3. Phật Tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
    4. Phật Tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
    5. Phật Tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.

    Đó là những điều lệ, quy luật được đặt ra để cho Đoàn sinh tuân theo hành động, ngăn ngừa mọi lỗi lầm, phát triển điều thiện, hầu đạt mục đích của Gia Đình Phật Tử.

    II. Định Nghĩa:

    1- Quy y Phật Pháp Tăng: là quay về nương tựa Tam Bảo. Là Phật tử em phải tôn Phật Pháp Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, hướng về Tam Bảo, không theo Thượng-Đế, tà sư, không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.

    Giữ giới đã phát nguyện: Giới là những giới luật của Đức Phật đặt ra. Người Phật tử tại gia thực hành và duy trì năm giới, tùy nguyện tùy sức đã phát nguyện thọ lãnh giới nào thì triệt để giữ giới ấy, không lúc nào trái phạm. Nếu trái phạm thì phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.

    2- Mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống: Phật tử thực hành hạnh Từ-Bi, mở rộng lòng thương bản thân mình, gia đình mình và tất cả mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả chúng sanh. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không những không giết hại mạng sống của bất cứ người nào, sinh vật nào, mà còn phải bảo tồn, tôn trọng tất cả sự sống, kể cả sự sống của những sinh vật nhỏ. Phật tử ăn chay và không sát hại là giữ được điều luật này.

    3- Trau dồi trí tuệ: Trí tuệ là lý trí là sự hiểu biết. Phật tử dùng trí tuệ để tìm hiểu, học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Phải dùng trí phán đoán vô tư để tìm hiểu, nếu phải thì công nhận, nếu trái thì không tin. Đối với Phật Pháp, Phật tử hết sức tìm hiểu giáo pháp của Phật, dùng lý trí phân tích, thực nghiệm để thực hành, để sống như lời Phật dạy, vì Phật tử nhận rõ rằng chỉ có sự thực hành mới phát sinh trí tuệ con người.

    Tôn trọng sự thật nghĩa là biết sống đúng với lẽ phải và sự thật. Phật tử sẽ không nói láo vì nói láo là trái với sự thật. Phật tử không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hay để bênh vực lòng tự ái của mình.

    4- Trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm: Phật tử thực hành hạnh Thanh Tịnh (hạnh hoa sen trong trắng) để giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm cho trong sạch. Phật tử chỉ nói lời chân thật, hòa nhã; Phật tử không nghĩ, không làm các điều ác, chỉ nghĩ, chỉ làm các điều thiện có lợi cho mình và người khác.

    5- Sống hỹ xả để dũng tiến trên đường đạo: Phật tử thực hành hạnh Hỹ Xã và Tinh Tấn. Hỹ Xã nghĩa là luôn luôn hoan hỷ, vui vẻ, dầu gặp những nghịch cảnh, trở ngại. Phật tử vui vẻ hy sinh để giúp đỡ cứu khổ cho mọi người mọi loài, không để tâm ganh ghét thù hằn một ai. Tinh Tấn nghĩa là chuyên cần trên mọi công việc. Phật tử luôn luôn tinh tấn trên đường tu tập, và làm việc gì cũng phải quyết chí làm cho đến khi thành tựu mới thôi. Dù gặp thất bại, Phật tử không có quyền lùi bước, và luôn gắng sức mỗi khi gặp nghịch cảnh, trở ngại.

    III. Thực Hành:

    Là Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử em luôn luôn ghi nhớ:

    - Không được săn bắn, câu cá, sát sinh, giam giữ sinh vật, vì như thế là gây đau khổ cho loài vật, phạm giới, phạm luật. (Điều luật 1 và 2)
    - Luôn luôn cố gắng trau dồi trí tuệ và tôn trọng sự thật. (Điều 3)
    - Không tức giận, chửi mắng, không dùng lời lẽ xấu ác. (Điều 4)
    - Chuyên cần học tập, thường xuyên đi sinh hoạt, không gián đoạn trên mọi công việc. (Điều 5)

    Trong cuộc sống hằng ngày từ suy nghĩ, đến lời nói và việc làm, mỗi hành động cần luôn luôn nhờ 5 điều luật dẫn dắt bằng cách cố gắng hết mình tuân theo. Đó mới là Đoàn sinh gương mẫu của Gia Đình Phật Tử.

    Câu Hỏi:

    Năm điều luật có tác dụng gì?
    Thế nào là giữ giới và đã phát nguyện?
    Tại sao em phải tôn trọng sự sống?
    Trau dồi trí tuệ có lợi ích gì?
    Sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo là thế nào?
    Tự xét lại hành vi, suy nghĩ và việc làm của em hằng ngày có ích gì?

  • Ý nghĩa màu Lam
  • Để tạo sự đồng nhất của một tổ chức, người ta thường đòi hỏi các thành viên phải mặc áo quần đồng phục. Tùy theo mục đích của tổ chức, đồng phục cũng được chọn lựa để biểu lộ tinh thần của tổ chức đó. Gia Đình phật Tử Việt Nam cũng không ngoại lệ, và màu lam được chọn lựa cho màu áo của tổ chức.

    Màu Lam của Gia Đình Phật Tử với những ý nghĩa sau:

    Bình đẳng: Tổ chức GĐPT gồm đủ mọi thành phần, từ một em bé lên năm đến một cụ già bảy tám mươi tuổi; từ một người lao động tay chân đến những người học rộng tài cao; từ một em học sinh vỡ lòng đến một vị giáo sư kinh nghiệm. Tất cả đều đến với nhau trong tinh thần bình đẳng, san sẻ từ cái vui đến cái khổ mà không bao giờ phân bì hơn thua cao thấp.

    Hòa đồng: Màu lam là màu hòa hợp với thiên nhiên và màu sắc. Màu lam có thể đứng chung với bất cứ màu nào mà không quá nổi bật hoặc chìm đắm. Nếu một màu sặc sỡ như đen hoặc đỏ, thì màu lam là một màu nhu hòa. Nếu một buổi trời nắng chang chang, màu lam là một màu dịu mát. Nếu một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo, thì màu lam là màu mang theo hơi ấm. Tất cả đó là mục đích của Tổ Chức là luôn đem vui cứu khổ đến cho muôn loài.

    Tinh tấn và nhẫn nhục: Màu lam là một màu dễ cảm mến. Người mặc áo màu lam vào mình cũng không thể nóng nảy, hoặc u buồn mà phải luôn luôn nhẫn nhục và tinh tấn trên đường tu học và giúp ích mọi loài.

    Màu lam là một màu dễ dơ nhưng khó thấy, biểu lộ cho một tinh thần của Phật Giáo. Phật tánh hay ma tánh cũng tại tâm ta. Nếu chúng ta vẫn mãi chạy theo tham dục thì Phật tánh cứ mãi che khuất. Nếu chúng ta biết xa dần dục vọng thì Phật tánh lại càng ngày càng tăng trưởng trong tâm chúng ta.

    Chiếc áo Lam của tổ chức mang một ý nghĩa thật cao quý. Chúng ta nên cố gắng giữ gìn chiếc áo cũng như giữ gìn thân tâm của chúng ta phải luôn trong sạch. Không làm hoen ố nó. Có như vậy mới xứng đáng là một đoàn sinh của Tổ Chức.

    9. Huy hiệu hoa Sen

    Huy hiệu của Gia Đình Phật Tử là dấu hiệu tròn, Hoa sen trắng, có tám cánh nằm trên nền màu xanh lá mạ.

    I. Hình tròn: tượng trưng cho đạo Phật viên dung, hoàn toàn, vô ngại.

    II. Sen trắng: tượng trưng cho ánh sáng của Trí huệ hoàn toàn (giác ngộ), và cho ánh sáng của hạnh Thanh tịnh hoàn toàn (giải thoát). Hoa sen là loại hoa mọc trong bùn dơ nhưng vẫn tỏa ngát hương thơm tượng trưng cho sự không bị sa đọa của người Phật Tử dù sống với xã hội độc ác dơ bẩn.

    III. Tám cánh sen: chỉ rõ mục đích Gia Đình Phật Tử:

    A- Năm cánh trên của Hoa sen tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử, từ ngoài nhìn vào:

    Cánh giữa : hạnh Tinh Tấn. Tinh Tấn nghĩa là luôn luôn tiến trên con đường trong sạch, trên con đường đến mục đích của Đoàn, trên con đường Đạo. Tượng trưng cho hạnh Tinh Tấn là đức Phật Thích Ca, người đã rời bỏ hạnh phúc gia đình, ngôi báu, vợ con, danh lợi, để dấn thân trên đường Đạo, tu khổ hạnh trong sáu năm, ngồi thuyền định 49 ngày để đạt đến giác ngộ, rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa chúng sanh hơn bốn mươi chín năm. Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh tinh tấn là luôn luôn tinh tấn thực hành các hạnh Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi. Trái với hạnh Tinh Tấn là lười biếng trên đường Đạo, trong bổn phận của mình.

    Bên trái cánh giữa: hạnh Hỷ Xả, có nghĩa là luôn luôn vui vẻ hoan hỷ, làm mọi người vui vẻ hoan hỷ, sống phóng xả hy sinh. Gặp việc buồn, dữ, hoặc bệnh tật không than khóc, không quá lo buồn, không sợ hãi. Thấy người làm việc lành hoặc được may mắn thì vui vẻ, tán thành, không ganh ghét, bực tức. Thấy người gặp việc buồn khổ thì khuyên giải, giúp đỡ. Gặp người xúc phạm đến mình không tức giận. Biết hy sinh cho mọi người, mọi loài. Hỷ Xả không có nghĩa là vui vẻ trẻ trung, cười nói ồn ào. Hỷ Xả là hạnh của một tâm hồn trong sạch, yêu đời, thương mọi loài, điềm tĩnh và biết hy sinh. Người sống theo hạnh Hỷ Xả luôn có gương mặt tươi trẻ, cặp mắt trong sáng, nụ cười hiền hòa, và trong thân tỏa ra sức mạnh khiến mọi người hoan hỷ hy sinh theo mình. Tượng trưng cho hạnh Hỷ Xả là đức Phật Di Lặc, một đức Phật có một lòng thương rộng lớn cao cả, một gương mặt luôn luôn tươi cười.

    Bên phải cánh giữa: hạnh Thanh Tịnh, có nghĩa là trong sạch trong thân thể, trong sạch trong lời nói, ý nghĩ, việc làm và sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch. Trong sạch trong thân thể, là lúc nào thân hình cũng sạch sẽ, tóc tai gọn gàng, quần áo chỉnh tề. Trong sạch trong lời nói, là không nói lời giả dối, độc ác, thêu dệt, chải chuốt, nói hai lưỡi; chỉ nói lời thành thật, hòa nhã giản dị, và trung trực. Trong sạch trong ý nghĩ, là từ bỏ tánh tham, sân, si, tư tưởng cần trong sạch chơn chánh. Trong sạch trong việc làm là cử chỉ, việc làm chơn chánh. Sống giản dị là sống thanh bạch, đạm bạc, không xa hoa, phù phiếm. Một người sống theo hạnh Thanh Tịnh là thân thể áo quần luôn luôn sạch sẽ, tề chỉnh, lời nói, ý nghĩ, việc làm luôn luôn trong sạch, và sống cuộc đời giản dị thanh bạch. Tượng trưng hạnh Thanh Tịnh là đức Phật A Di Đà, một đức Phật có hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, hai quả đức do nhơn hạnh hoàn toàn thanh tịnh; và cảnh giới của đức Phật A Di Đà hóa độ chúng sanh là cảnh Tịnh Độ, một cõi hoàn toàn trong sạch đẹp đẽ.

    Bên trái của Hỷ Xả: hạnh Trí Huệ, có nghĩa là hiểu biết đúng đắn, cùng khắp, tất cả. Hiểu biết đúng đắn là sự thật cảnh vật như thế nào, thì hiểu biết đúng như vậy không sai lầm. Hiểu biết cùng khắp là hiểu biết rộng rãi. Một người sống theo hạnh Trí Huệ là phải học hiểu những điều phải học đúng theo chương trình, phải học hiểu Phật Pháp đúng theo thứ bậc của mình. Tượng trưng cho hạnh Trí Huệ là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Bồ Tát có trí huệ bậc nhất, tiêu biểu cho sự hiểu biết, và thường thay thế đức Phật Thích Ca khai sáng trí huệ cho mọi loài.

    Bên phải của Thanh Tịnh: hạnh Từ Bi, có nghĩa là đem vui cứu khổ cho mọi loài. Đem vui là gieo sự vui vẻ như người thích đọc sách, đem sách tặng khiến cho người đó vui vẻ, hoặc dùng lời nói hòa nhã giảng giải Phật Pháp khiến cho người nghe vui vẻ. Cứu khổ là trừ những nỗi đau khổ cho mọi loài, như đối với người khổ vì đói khát thì bố thí các món ăn uống cho hết khổ... Một người sống theo hạnh Từ Bi là luôn luôn cứu giúp mọi loài, mọi người sống hạnh phúc. Tượng trưng cho hạnh Từ Bi là đức Quán Thế Âm Bồ Tát, một vị Bồ Tát hiện thân cứu khổ cứu nạn cho mọi loài, luôn luôn thương tưởng, cứu giúp cho tất cả chúng sanh.

    B. Ba cánh dưới tượng trưng cho ba ngôi báu, từ ngoài nhìn vào:

    Cánh giữa: Phật Bảo. Phật Đà có ba nghĩa: Tự Giác, là tự mình giác ngộ. Giác Tha, có nghĩa là giác ngộ cho mọi loài cũng đồng giác ngộ như mình. Giác Hạnh Viên Mãn, có nghĩa là hai công hạnh kể trên hoàn toàn viên mãn. Từ trước tới nay có nhiều vị đã chứng quả Phật, như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Dược Sư, Đức Phật Di Lặc v.v...

    Cánh trái: Pháp Bảo. Pháp là lời dạy của Đức Phật hoặc các vị Bồ Tát vâng theo lời Phật mà nói, hoặc các vị Tổ Sư làm ra. Lời dạy tuyên dương chơn lý, có thể đưa mọi loài thoát khổ được vui.

    Cánh phải: Tăng Bảo. Tăng Bảo là đoàn thể xuất gia tu hành theo Đạo Phật, gồm bốn người trở lên, và sống theo sáu phép hòa kính.

    IV. Màu xanh lá mạ:
    là màu tương lai - chỉ tuổi trẻ đang vươn lên đầy hy vọng ở tương lai, màu của Thanh, Thiếu, Nhi Phật Tử.

  • Hiểu và Thương
  • I. Em nghe:

    Trong năm điều luật của ngành Thiếu GĐPT có hai điều quan trọng liên hệ với HIỂU và THƯƠNG; đó là: "Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống" (THƯƠNG) và "Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật" (HIỂU). Hiểu và thương là hai yếu tố dính liền với sự sống cá nhân, gia đình và đoàn thể. Mỗi người chúng ta khi chào đời là đã tiếp nhận đầy đủ sự sống, trí tuệ và lòng yêu thương mà cha mẹ đã trao truyền. Trí tuệ để hiểu biết và tình yêu thương để ban bố. Nghệ thuật sống là nghệ thuật phối hợp trí tuệ và tình yêu thương nhằm làm đẹp cuộc sống bản thân, gia đình, đoàn thể nghĩa là làm đẹp cuộc đời. Làm đẹp đây là ổn định được sự sống thanh tịnh, ổn định được trí tuệ tỉnh thức và ổn định được tình yêu thương chân thành cho cá nhân, cho gia đình, cho đoàn thể, cho xã hội và cho muôn loài chúng sanh. Nếu chúng ta thực hiện được như vậy thì cuộc sống trên thế gian này đâu còn đau khổ nữa và cõi Ta Bà này chính là "Tây Phương Cực Lạc" rồi.

    II. Em suy nghiệm:

    Tại sao chúng ta chưa làm được những điều trên đây?

    Trước hết, chúng ta hãy tự hỏi mình: "Chúng ta đã biết thương cái thân của chúng ta chưa?" Chúng ta đã hiểu rõ những nhu cầu về cơ thể, về tâm trí của chúng ta chưa? Điều gì nên làm, điều gì nên tránh để đáp ứng những nhu cầu ấy? Ví dụ, chúng ta ham ăn để dạ dày chúng ta đau đớn, hút thuốc để hại buồng phổi, luôn nổi sân si để những con giận đốt cháy lòng ta, làm lu mờ trí óc ta v.v... như vậy có phải là ta đã không biết thương thân mình hay không? Nếu ta biết thương thân mình rồi, ta cũng thương người khác vì ta biết rằng mọi người đều giống nhau: tham sống sợ chết, tham vui sợ khổ. Ngoài ra, muốn thương thì phải hiểu, phải có trí tuệ, phải biết người khác muốn gì, cần gì, và điều gì là tốt nhất cho người ta. Một bà mẹ nuông chiều con, cho con muốn gì được nấy, rốt cuộc cậu bé hư hỏng. Như vậy có phải là thương không? Một ông cha bảo rằng thương con, muốn cho con nối chí mình, bắt con phải học bác sĩ trong khi đứa con thích học âm nhạc và chỉ có khiếu về âm nhạc. Con rất hạnh phúc khi bắt gặp những âm điệu, rất thích thú khi làm được một bài nhạc hay. Con chơi đàn rất tuyệt nhưng lại dở Toán, Lý Hóa. Con rất khổ sở phải theo học những môn Toán, Lý Hóa. Trong khi đó, các thầy dạy nhạc cho rằng con mình sẽ là một nhạc sĩ có tài. Vậy thì nguời cha này có thật thương con mình không? - Không! thật ra ông ấy chỉ thương ông ta, làm theo hoài bão của ông ta mà không phải là mong muốn của người con. Ông ta không hề nghĩ về khả năng đặc biệt cũng như cuộc sống sau này của con mình. Nói cách khác, thương mà không hiểu nhiều khi không những không đem lại niềm vui cho người khác mà còn làm người khác phiền não, đau khổ.

    III. Em tu tập:

    Để thực hành hiểu và thương, em luôn trau dồi trí tuệ và phát triển lòng thương được soi sáng bởi trí tuệ. Em biết rằng trước khi làm được những chuyện lớn, em phải biết làm những chuyện nhỏ. Như một nhà văn Pháp đã nói: "Trước khi làm một vì sao trên trời, hãy làm một ngọn đèn nhỏ trong nhà". Cũng vậy, muốn làm Phật để cứu độ chúng sanh, trước hết em phải làm một người con hiếu, một người anh/chị/em biết thương anh chị em mình, một người bạn chân thành, một công dân gương mẫu, một người Phật Tử chân chính.

    Hằng ngày, em săn sóc cha mẹ bằng cách riêng của em. Săn sóc đôi khi chỉ là hỏi han họ, quan tâm đến họ: khen mẹ làm thức ăn ngon, cảm ơn cha đã lau xe cho mình một lần nào đó, giúp mẹ rửa chén, lặt rau, giúp cha tưới cây, cắt cỏ v.v...

    Gặp một em bé đang khóc một mình trong sân chùa đông người, em dỗ bé, đem bé đi tìm mẹ; đưa một bà cụ đến nơi bà muốn, cho một em bé quá giang xe mình vì ba mẹ em không đến được; dịu dàng an ủi, góp ý với một bạn Đoàn khi thấy bạn buồn phiền và đang cần đến em; nhường nhịn em bé, không gây lộn với anh/chị/em dù họ đang nóng nảy làm phiền mình; cứu một con chim bị lọt vào ống khói, lượm một cái đinh, cái gai giữa đường đi v.v... Tất cả không ngoài mục đích trau dồi tình thương nơi tâm mình, làm công việc "Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ" mà mình thường đọc tụng mỗi Chủ Nhật. Việc này không cần phải lớn mới làm được, không cần có tiền bạc mới làm được, mà chỉ cần một tấm lòng thương yêu và một đầu óc tỉnh táo sáng suốt hiểu biết thấu đáo về người và về mình. Làm tất cả các việc thiện dù nhỏ, tránh tất cả các việc ác, với tâm trong sáng vô tư, không mong cầu đền đáp hay được tiếng khen; đó là ta đã đích thực tu nhân giải thoát vậy.

    Câu hỏi:

    Em hãy chứng minh rằng năm điều luật của ngành Thiếu GĐPT bao gồm năm giới.
    Giảng nghĩa những chữ sau: sự sống thanh tịnh, trí tuệ tỉnh thức, tình yêu thương chân thành.
    Tại sao nói: "Muốn thương thì phải hiểu"? Thương mà không hiểu thì sao? Cho một ví dụ để giải thích câu trả lời của em.
    Em áp dụng: "sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ" như thế nào trong cuộc sống hàng ngày?
    Em có bắt bướm ép vào sách không? Tại sao?
    Em có bắn chim hay bẫy chim không? Tại sao?

  • Mục đích của GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
  • Qua gần nửa thế kỷ đầy biến chuyển của đất nước, Gia Đình Phật Tử Việt Nam được thoát thai từ Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục trong mục đích, lý tưởng, hoài bão và sứ mệnh bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ Dân Tộc và Hòa Bình.

    Gia Đình Phật Tử không phải là một tổ chức hoàn toàn biệt lập với các tổ chức khác của Phật Giáo, mà là một tổ chức giáo dục nằm trong Tổng Vụ Thanh Niên của Viện Hóa Đạo. Đó là phương diện pháp lý của Gia Đình. Tuy nằm trong Tổng Vụ Thanh Niên, nhưng chúng ta có một lề lối tổ chức biệt lập; một phương pháp thuận lợi cho tuổi Thanh Thiếu Nhi; một kỷ cương truyền thống nội bộ mà không ai xâm phạm được. Tất cả những cái riêng biệt ấy nhằm thực hiện mục đích Gia Đình Phật Tử như sau: Đào tạo Thanh, Thiếu, Nhi thành những Phật Tử chân chánh và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật Giáo, dân tộc Việt.

    Mục Đích Gia Đình Phật Tử gồm có hai phần: Phần xây dựng cá nhân và phần xây dựng xã hội.

    I. Xây Dựng Cá Nhân:

    Gia Đình Phật Tử cố gắng đào tạo những con người có đủ ba đức tính căn bản: BI, TRí, DũNG, những con người lấy tình thương làm động lực (Bi), lấy trí tuệ làm ngọn đèn hướng dẫn (Trí), lấy dũng lực làm đà tiến lên (Dũng); những con người biết yêu thương đồng bào, đồng loại như thương yêu chính mình, biết khoan hòa tha thứ, biết nhận rõ đâu là trái, đâu là phải, đâu là ánh sáng, đâu là bóng tối cuộc đời; những con người không nề gian khổ, không sợ gian nguy trong khi làm nhiệm vụ của mình. Để trau dồi những đức tính ấy người Phật Tử cần thực hành năm hạnh: TINH TẤN, HỶ Xả, THANH TịNH, TRí TUệ, và Từ BI trong đời sống hằng ngày.

    Tinh Tấn: Luôn luôn tiến trên con đường đến mục đích của Đoàn, trên con đường đạo.
    Hỷ Xả: Luôn luôn vui vẻ hoan hỷ, làm mọi người mọi loài vui vẻ hoan hỷ, biết sống hy sinh cho kẻ khác.
    Thanh Tịnh: Là trong sạch từ thân thể đến lời nói, ý nghĩ và việc làm. Biết sống giản dị.
    Trí Tuệ: Là hiểu biết đúng đắn và rộng rãi.
    Từ Bi: Là đem vui và cứu khổ cho mọi loài; biết dùng lời nói hòa nhã cho mọi người an vui; biết thực hành hạnh bố thí để giúp đỡ mọi loài.

    II. Xây Dựng Xã Hội:

    Trong xã hội, chúng ta là một phần tử của Cộng Đồng Việt Nam, Gia Đình Phật Tử cố gắng góp sức với các đoàn thể khác, xây dựng một xã hội cộng đồng người Việt yên vui, lành mạnh, lấy tình thương làm chất lieu.

    admin



    Những bản tin khác
    Tứ Diệu Đế [23.04.2010 11:51]
    Bậc Chánh Thiện [31.12.2009 12:52]
    Bậc Trung Thiện [31.12.2009 12:43]
    Bậc Sơ Thiện [31.12.2009 12:31]
    Bậc Cánh Mềm [08.06.2009 11:06]
    Bậc Chân Cứng [08.06.2009 10:52]
    Bậc Tung Bay [02.06.2009 17:00]
    Bậc Mở mắt [13.05.2009 13:39]


    chương trình sinh hoạt


    Tiện ích trên inetrnet

    Bấm vào để xem !
    Bấm vào để xem !
    Bấm vào để xem !


    Phật Pháp Online
    Tứ Diệu Đế
    Châm ngôn và năm điều luật của GĐPT
    Bậc Chánh Thiện
    Bậc Trung Thiện
    Bậc Sơ Thiện
    Bậc Hướng Thiện
    Bậc Cánh Mềm
    Bậc Chân Cứng
    Bậc Tung Bay
    Bậc Mở mắt

    Hoạt động thanh niên
    10 trò chơi khởi động của AC
    Một số cổng trại đẹp
    Các cách khai mạc lửa trại...
    Tổng hợp các loại gút dây
    Khái niệm về mật thư
    Morse code
    Đội hình tập họp
    Dấu đi đường

    Hỗ trợ
    Liên hệ qua Yahoo Messenger
    minhluat_nguyen

    0905.377301

    Thành viên có mặt
     Khách: 003
     Thành viên: 000
     Tổng cộng 003
     Lượt truy cập: 000154597

    Lên đầu trang